Khoa học - Giáo dục

Lev Tolstoy - Đôi mắt và đôi tay người nghệ sĩ

Nhìn vào chân dung của Lev Tolstoy, ấn tượng đầu tiên và mạnh mẽ nhất là đôi mắt sâu ẩn sau vầng trán mênh mông và đôi mày rậm cau có, luôn loé lên một ánh nhìn khiến khuôn mặt trở nên linh hoạt, đầy sức sống.


Những thiên tài luôn khác thường kể cả ở bề ngoài nhưng không có nghĩa là “kỳ hình dị tướng”. L. Tolstoy cũng vậy. Sinh thời, ông là người khoẻ mạnh cường tráng, biết ăn diện đúng phong cách quý tộc nhưng đôi khi xuềnh xoàng giản dị như một lão nông. Thế nhưng đôi mắt, hay đúng hơn, cái thần của đôi mắt ông đã khiến người ta nhận ra đó không phải là một người bình thường.
Ông mang tên của một loài thú dữ (Lev trong tiếng Nga có nghĩa là sư tử). Nhà văn Nga Ivan Turgenev cho rằng L. Tolstoy quan sát con người và sự vật “giống như con chim hay con thú”. Một nhà văn Nga khác, Ivan Bunin nói L. Tolstoy có “đôi mắt chó sói làm mọi người sợ bởi sự kỳ lạ của chúng: chúng không có vẻ tấn công mà thận trọng như mắt của giống thú hoang dã” còn Maxim Gorky đã nói đến “ngàn cái nhìn của Tolstoy”. Tuy mang vẻ hoang dã, đôi mắt L. Tolstoy lại tỏa ra ánh sáng của trí tuệ minh triết, thấu tỏ bao sự vật, từ những cái nhỏ đến những cái lớn lao, vĩ đại lay chuyển cả lịch sử loài người. Có thể nói ánh mắt L. Tolstoy biểu hiện tâm hồn của một kẻ đã đạt đến đỉnh cao của sự thông tuệ và lại quay trở về vẻ giản dị, hoang sơ.
Ngoài ánh mắt, L. Tolstoy còn có đôi bàn tay rất đặc biệt mà các họa sĩ và những thợ chụp ảnh có lẽ đã không chú ý đến. Maxim Gorky, người biết Tolstoy những năm tuổi già, đã viết về “Ông có đôi bàn tay kỳ diệu! Chúng không đẹp, gồ ghề những đường gân máu lớn nhưng đầy sức biểu cảm và năng lực sáng tạo. Có lẽ Leonardo da Vinci cũng có đôi bàn tay như thế. Với đôi tay đó người ta có thể làm được bất cứ điều gì”.
L. Tolstoy có thể thể hiện tình cảm và suy nghĩ bằng đôi bàn tay. M. Gorky nhớ L. Tolstoy lúc chơi bài (một thú đam mê của văn hào): “Ông chơi nghiêm túc và hăng hái. Đôi tay ông  trở nên bị kích động khi nhặt những lá bài lên, hệt như ông đang giữ giữa các ngón tay những con chim sống động chứ không phải là những mảnh bìa vô tri vô giác” và “ông động đậy những ngón tay, dần dần gom lại thành nắm đấm, rồi bỗng nhiên xòe chúng ra, đồng thời thốt ra một câu rất hay và đầy trọng lượng”…
Lev Tolstoy tên đầy đủ là Lev Nikolayevich Tolstoy. Ông sinh ngày 28 tháng 8 năm 1828 tại điền trang Yasnaya Polyana thuộc tỉnh Tula trong một gia đình đại quý tộc Nga. Sớm mất mẹ và cha, nhà văn lớn lên trong sự nuôi dưỡng, chăm sóc của những người họ hàng. Tolstoy đã viết về Thời thơ ấu của mình: “Tôi hoàn toàn không nhớ mẹ tôi. Bà mất khi tôi mới một tuổi rưỡi. Thật tình cờ đến kỳ lạ là không còn giữ lại được một tấm hình nào của bà, thành ra tôi không thể tưởng tượng ra bà như một thể xác hiện hữu. Tôi có phần mừng vui vì điều đó, bởi trong trí tưởng tượng của tôi, bà chỉ là một hình ảnh tinh thần, và tất cả những gì tôi biết về bà đều rất đẹp đẽ, và tôi nghĩ rằng, đó không phải chỉ vì  mọi người khi nói với tôi về mẹ đều cố chỉ nói những điều tốt đẹp, mà thực sự ở bà có rất nhiều điều tốt đẹp. Hơn nữa, không chỉ mẹ tôi, mà tất cả những người xung quanh tôi, từ cha tôi cho đến những anh đánh xe, đều hết sức tốt đẹp trong mắt tôi. Có lẽ, tình cảm yêu thương trong trắng nơi tôi, như ánh sáng, đã giúp tôi nhìn thấy ở mọi người những phẩm chất tốt đẹp nhất của họ. Và việc tất cả mọi con người đó đối với tôi đều hết sức tốt đẹp là một sự thật lớn hơn rất nhiều so với khi tôi chỉ nhìn thấy những khiếm khuyết nơi họ”.
Một số tác phẩm nổi tiếng của L. Tolstoy
- Thời thơ ấu
- Tuổi niên thiếu
- Tuổi trẻ
- Buổi sáng của một trang chủ
- Chiến tranh và hòa bình
- Phục sinh
- Anna Karenina
- Cái chết của Ivan Ilich
- Bản xô nát Kreutzer
- Đức cha Sergius
- Hadji Murat

Trần Thị Phương Phương
(Nguồn: http://khoavanhoc- ngonngu.edu.vn)

 

Tiểu thuyết Việt Nam bao giờ bước tiếp

Trong quãng thời gian non một thế kỉ ấy, tiểu thuyết của ta đã bước được đến đâu trên đoạn đường mà tiểu thuyết châu Âu đã đi hơn 400 năm? Và đến nay thì tiểu thuyết Việt Nam đang ở điểm nào? - đó là chủ đề chính của cuộc tọa đàm "Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam" vừa diễn ra tại Hà Nội.


Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam đang ở đâu?Nếu tính từ những tác phẩm đầu tiên của các nhà văn tiên phong xây dựng nền tiểu thuyết hiện đại Việt Nam là Hồ Biểu Chánh và Hoàng Ngọc Phách thì đến nay, tiểu thuyết Việt Nam đã trải qua gần 100 năm hình thành và phát triển.Nhìn lại lịch sử phát triển của tiểu thuyết Việt Nam, có thể thấy trong giai đoạn đầu, chúng ta đã có những thành quả đáng kể. Những Bỉ vỏ, Sống mòn, Sống mãi với Thủ đô, Vỡ bờ và sau này là Mùa lá rụng trong vườn, Nỗi buồn chiến tranh, Những mảnh đời đen trắng, Cơ hội của Chúa... thực sự là những tác phẩm có giá trị, đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới văn xuôi Việt Nam đương đại. Cho đến nay, các tác phẩm này vẫn được nhiều người tìm đọc.

Từ thập niên 90 của thế kỉ XX đến những năm đầu thế kỉ XXI, văn học Việt Nam đã xuất hiện một trào lưu tiểu thuyết viết theo lối mới: thể hiện và tự vấn. Những gương mặt như Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương... đã làm nên một thế hệ cây bút trẻ cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

Tuy nhiên, theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “Dù đã rất cố gắng nhưng nhìn chung tiểu thuyết của ta vẫn chưa thoát ra khỏi khuôn hình của tiểu thuyết cổ điển, tiểu thuyết hiện thực châu Âu, cụ thể là của Pháp. Khi mà trên thế giới, nhất là từ giữa thế kỉ XX đã có rất nhiều cách tân về tiểu thuyết, về kỹ thuật tiểu thuyết. Nhưng vì nhiều lý do mà chúng ta tiếp thu rất chậm, ít có sự đổi mới về kỹ thuật tiểu thuyết, các tiểu thuyết gia vẫn chủ yếu viết theo lối cổ điển, hiện thực mà chưa có sự tương thích với thế giới”.

Đại diện những người trực tiếp cầm bút, nhà văn Nguyễn Việt Hà cho rằng, những tiểu thuyết gia thế hệ 7X trở đi đã bắt đầu tiếp cận với những kỹ thuật căn bản về viết tiểu thuyết hiện đại. Dẫn ví dụ từ giải thưởng tiểu thuyết của Công ty sách Bách Việt, nhà văn Việt Hà cho hay, khi nhận được ngót nghét 100 bản thảo thì có đến 1/3 trong số những bản thảo này có sử dụng nghệ thuật viết hiện đại, đã quan tâm trau chuốt đến cách viết, kết cấu, ngôn ngữ, đã biết sử dụng nhiều thủ pháp... Tuy nhiên, cùng với đó, vẫn không thấy có mấy tác phẩm để lại tiếng vang, cũng chưa tìm ra gương mặt nào có khả năng tạo nên sự bứt phá hay dấu ấn mới cho tiểu thuyết Việt.

Lý giải thực trạng này, nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp, Viện phó Viện Văn học Việt Nam cho rằng, đó là do Việt Nam chúng ta thiếu độ dày của triết học, mỹ học nên ảnh hưởng đến sáng tạo văn chương; do cơ chế thỏa mãn sớm của một bộ phận người cầm bút khi thấy tác phẩm của mình bán chạy, hoặc giả là do tính thời thượng và xu hướng đọc của độc giả, bắt người viết phải viết những cái họ thích, chứ không phải viết những cái để đời. Và thế là, cho dù có không ít tác phẩm ra đời nhưng tiểu thuyết của ta vẫn không khám phá được gì cả, càng không tiếp thu được gì từ lịch sử mấy trăm năm của tiểu thuyết thế giới. Chúng ta vẫn cứ loay hoay trong nỗ lực vượt qua các thành tựu đã có nhưng xem chừng mới chỉ nhúc nhích chuyển động mà chưa thể nhấc nổi cả một bước chân.

Đặt kỳ vọng vào các nhà văn trẻ
Điểm đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại trong những năm gần đây chính là sự nổi lên của một vài cây bút trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X viết khỏe, được cho là có tiềm năng nhưng tinh chất để lại chưa thật sự nhiều và ấn tượng. Trong số họ cũng có người đang trăn trở, tìm tòi nhằm đổi mới tư duy thể loại nhằm tìm ra một hướng đi mới cho tiểu thuyết. Thêm vào đó, dăm mười năm trở lại đây, giới nghiên cứu văn học đã không còn thỏa mãn với các kỹ thuật có tính “cổ điển”, máy móc, sáo mòn, mà cố gắng tìm kiếm gợi ý từ các lý thuyết văn học hiện đại. Nhiều sách chuyên biệt về tiểu thuyết của các tác giả nước ngoài đã được dịch và xuất bản. Cơ hội tiếp xúc, giao lưu và trao đổi với các nền văn học lớn trên thế giới của các nhà văn trẻ cũng nhiều hơn. Có nghĩa là về lý thuyết, kỹ thuật viết tiểu thuyết họ nắm khá chắc và đầy đủ nhưng tại sao vẫn chưa có một tiểu thuyết nào để đời? Phải chăng họ còn thiếu một nguồn chất liệu dồi dào và những ý đồ sáng tác táo bạo!?.

Theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, để có thể thành công, nhà văn trẻ phải đọc nhiều và cần đọc chậm, đọc sâu thay vì đọc nhanh, viết nhanh, đọc nông, viết hời hợt như hiện tại. Về phía xã hội, cũng có thể mở các trường lớp đào tạo một cách bài bản chính quy các kỹ thuật viết văn cho lớp trẻ, nhưng quan trọng hơn, cần phải tạo môi trường nghề nghiệp thuận lợi để họ lao động nghệ thuật, một không khí, một quang cảnh nghề nghiệp nhiều hưng phấn và kích thích sáng tạo như văn đàn thời kỳ 1930 -1945. Ông Nguyễn Đăng Điệp thì cho rằng, các nhà văn trẻ cần nhận thức rõ: cái mà tiểu thuyết hiện đại của chúng ta gặt hái được cho đến ngày nay mới chỉ là một mùa vụ nhỏ trên một mảnh ruộng nhỏ. Chúng ta phải bước tiếp những bước đi mạnh mẽ hơn vào cánh đồng rộng lớn của tiểu thuyết mà thế giới đã khai thác và cày xới trong suốt hơn 400 năm qua, để từ đó cho ra những tác phẩm xứng tầm mang hơi thở đương đại về thời mà chúng ta đang sống và hướng tới.

Lĩnh vực tiểu thuyết đòi hỏi “độ chín” hơn so với lĩnh vực thơ và truyện ngắn, vốn là nơi người viết dễ lóe sáng ngay từ đầu. Vì vậy, rất khó để mong chờ một tiểu thuyết gia có sự đột phá trong số những nhà văn trẻ hiện nay. Nhưng với những gì mà các nhà văn trẻ Việt Nam đang nỗ lực và hướng tới, chúng ta có thể kỳ vọng rằng trong tương lai không xa, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam sẽ bước tiếp!         

Hoàng Linh
(Nguồn: http://suckhoedoisong.vn)

 

Phê bình trong thời đại bùng nổ thông tin

Phê bình là một hoạt động sáng tạo và thông tin bằng ngôn từ hướng đến việc hiểu biết và đánh giá các sáng tác văn học. Bài viết chủ yếu đề cập đến sự liên quan giữa phê bình với cách thức, phương tiện trao đổi thông tin trong xã hội hiện tại.


Sự nhận xét về văn học, tiền đề của phê bình văn học, có mặt đồng thời với sự xuất hiện của bản thân sáng tác văn học, tức là đã có từ khoảng 2500 năm trước. Điều này quan sát thấy ở cả phương Đông (Trung Quốc cổ) lẫn phương Tây (Hy Lạp cổ). Cùng với sự phát triển của xã hội, với quá trình biến đổi của văn học, phê bình cũng thay đổi sâu sắc cả về số lượng lẫn cấu trúc, cả về chức năng lẫn ý nghĩa. Có gì là chung, chẳng hạn, giữa tác phẩm Thi học của Aristote với một bài viết nhỏ thông tin về sách mới hay bình một chữ, một câu thơ mà ta thấy đầy rẫy trên báo chí hiện nay?
Nhìn bề ngoài, dường như giữa chúng chẳng có gì là tương đồng cả. Nhưng nói chung, chúng đều là phê bình văn học. Bản thân nội dung khái niệm phê bình văn học (critique) không mấy rõ ràng. Mỗi thời đại có những cách hiểu không giống nhau về phê bình văn học. Có bao nhiêu trường phái thì có bấy nhiêu quan niệm về phê bình. Sau đây tôi xin liệt kê ra một ít để thấy sự phong phú và khác biệt đó, để thấy phê bình văn học là một khái niệm khó nắm bắt.
Với các nhà minh triết Hy-La cổ thì phê bình (chữ Hy Lạp cổ: kritiké) là phân loại và xét đoán. Trong tác phẩm phê bình (có người lại gọi là lý luận) kinh điển Thi học (Poétique), Aristote đã phân chia toàn bộ sáng tác văn học ra thành thơ sử thi, bi kịch, hài kịch và xét đoán từng loại về “nghệ thuật mô phỏng” (mimesis).
Theo cách nhìn của con người được mệnh danh là “bác học nhất trong những nhà bác học thời cổ đại” này thì nghệ thuật đó là sự mô phỏng và các môn loại nghệ thuật phân biệt nhau bởi 3 điểm: phương tiện mô phỏng, mô phỏng cái gì và mô phỏng như thế nào(1). Đó là ở phương Tây thời cổ, còn ở Trung Quốc, trong tác phẩm phê bình trứ danh Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp (465-520) cho rằng phê bình xét về thể thì thuộc thể luận (cũng như Luận ngữ của Nho gia và Tề vật luận của Trang Chu), còn về loại thì là loại tự và dẫn. Luận, theo ông, là kết hợp các lời nói cho nhất quán, đi sâu nghiên cứu kỹ một lẽ, đánh giá cái đúng, cái sai. Còn tự là trình bày sự việc có trước có sau, dẫn là giới thiệu cho người ta biết(2). Từ cách nhìn của hai đại danh phê bình này ít nhiều ta thấy ngay từ thời cổ trung đại, phê bình phương Tây và phương Đông đã rất khác nhau: phương Tây thiên việc tìm hiểu bản chất đối tượng, phương Đông trọng về việc trình bày, tổ chức diễn ngôn.
Trong thời cận hiện đại, cách hiểu về phê bình càng khác biệt nhau.
V. Bielinski gọi phê bình là “mĩ học đang vận động” tức là chú ý đến các hiện tượng văn học đang diễn ra. Hai tác giả của cuốn Lí luận văn học nổi tiếng ở phương Tây R.Wellek và A.Warren lại cho rằng phê bình là tiếp cận tác phẩm văn học theo lối tĩnh (statique) và đơn lập, không kể tác phẩm của ngày hôm nay hay trong truyền thống. Họ nêu lên sự khu biệt giữa lịch sử văn học, phê bình văn học và lí luận văn học như sau: lịch sử văn học là cho thấy hiện tượng A được sinh ra bởi hiện tượng B như thế nào, còn phê bình nói rõ A có giá trị hơn B ra sao.
Theo họ, lí luận nghiên cứu các phạm trù, các nguyên tắc, các tiêu chí chung của sáng tác văn học, còn phê bình phân tích tác phẩm cụ thể. Chẳng hạn Aristote là nhà lí luận còn Sainte - Beuve là nhà phê bình(3). Thế nhưng, ngay ở phương Tây không phải mọi nhà nghiên cứu đều đồng tình với sự phân biệt như vậy. Từ điển thuật ngữ văn học và lí thuyết văn học của J.A.Cuddon (in lần 3 năm 1992) thì gọi chung là phê bình văn học (criticism). Thi học của Aristote, Nghệ thuật thi ca của Horace, Nghệ thuật thi ca của Boileau đều được gọi là tác phẩm phê bình văn học(4). Từ điển Bách khoa văn học của Liên Xô (1987) định nghĩa phê bình văn học là một kiểu sáng tạo, giải thích, đánh giá sáng tác văn học và cả (đây là điểm khác biệt) những hiện tượng đời sống được phản ánh trong đó(5). Thế nhưng nhà phê bình Pháp nổi tiếng R.Barthes lại cho rằng phê bình chỉ là một thứ ngôn ngữ nói về một thứ ngôn ngữ khác - tức ngôn ngữ của tác phẩm văn học. Đấy là cuộc đối thoại ngôn từ với hai câu chuyện, giữa hai chủ thể: chủ thể phê bình và chủ thể tác giả. Nó là siêu ngôn ngữ.
Các định nghĩa như thế rất nhiều. Có bao nhiêu nhà phê bình sáng giá thì có bấy nhiêu đáp án cho câu hỏi: Phê bình văn học là gì? Thế nhưng đâu là điểm chung trong vô số các định nghĩa đó; cái gì khiến cho hoạt động phê bình trải qua hàng ngàn năm biến đổi với nhiều tham vọng và thất vọng, nhiều lần được cưng chiều và bị lợi dụng, với nhiều phương tiện và thể loại... để nó vẫn là nó? Nói ngắn gọn: tính chất bất biến, hạt nhân không thể đập vỡ được của nó là gì? Có thể chỉ ra cái bất biến đó như sau:
Phê bình là một dạng hoạt động sáng tạo và thông tin bằng ngôn từ hướng đến việc hiểu biết và đánh giá các sáng tác văn học. Tôi xin nhấn mạnh hai điểm: sáng tạo và thông tin. Với tư cách hoạt động sáng tạo ngôn từ, phê bình gắn liền với tư chất chủ thể, tức “gu” thẩm mĩ, thế giới quan, tài năng thể hiện ngôn ngữ, cá tính... của nhà phê bình. Điều này đã được nghiên cứu nhiều. Với tư cách hoạt động thông tin, phê bình liên quan đến cách thức và phương tiện trao đổi thông tin. Mà cách thức và phương tiện thông tin lại bị quy định bởi thời đại, tức trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là trình độ khoa học công nghệ. Bài viết của tôi chủ yếu đề cập đến điểm thứ hai này.
Lịch sử phát triển của xã hội, chỉ nhìn từ khía cạnh giao tiếp, trao đổi thông tin, có thể được phân ra thành hai giai đoạn: giai đoạn của các thời đại cổ truyền (cổ, trung, cận đại) và giai đoạn bùng nổ thông tin.
Lévi-Strauss, nhà nhân học và triết học lớn của thế kỷ XX cho rằng: toàn bộ các hoạt động xã hội của con người đều có thể quy về các hoạt động giao tiếp và trao đổi thông tin, trong đó có thông tin ngôn ngữ. Trong các xã hội cổ truyền, cách thông tin ngôn ngữ chủ yếu là mặt đối mặt, miệng người này qua miệng người khác, hoặc người ta tập hợp nhiều người lại thành nhóm rồi truyền đạt tin tức. Tiến bộ hơn nữa (thời cận đại) thì có một số nhà xuất bản, toà báo in sách và các ấn phẩm báo chí định kỳ, số lượng ít ỏi, phát hành chậm chạp qua bưu điện, độc giả thưa thớt. Thời hiện đại là sự bùng nổ thông tin với nhiều loại phương tiện truyền thông đại chúng: báo chí, truyền hình, mạng Internet... Điều đặc biệt quan trọng là giờ đây chúng bắt đầu phối hợp với nhau làm thay đổi căn bản phương thức thông tin. Giờ đây, thông tin được trao đổi theo phương thức tổng hợp.
Trong đời sống văn học của các xã hội cổ truyền, phê bình văn học là sự giảng giải, đánh giá về văn học của những bậc anh minh và khả kính: Platon, Aristote, Horace... cũng là sự bày tỏ mối đồng cảm giữa các tài tử văn chương như Chu Mạnh Trinh, Mộng Liên Đường chủ đối với Nguyễn Du qua việc bình luận Truyện Kiều. Trong văn hóa phương Đông, biểu tượng Bá Nha - Tử Kì ẩn chứa một quan niệm đặc sắc và cũng thật sâu sắc về quan hệ giữa nhà sáng tác và nhà phê bình.
Tầm ảnh hưởng của phê bình phụ thuộc rất nhiều vào “kẻ môi giới thông tin” tức người truyền miệng tin tức hoặc chủ các nhà xuất bản, các toà báo ở thời cận đại. Tác phẩm không tồn tại nếu ông chủ không đồng ý cho in, vì thấy không hay, không hợp, hoặc không có lợi... Các tác phẩm phê bình luôn là lời thuyết giảng về văn học hay là thứ “quà tặng” (chữ của Phan Ngọc). Đấy là xét về diễn từ. Còn về nội dung thì luôn gồm các nguyên tắc và tiêu chuẩn thẩm mĩ xác định và bất định. Trong thời đại thông tin, phê bình văn học thay đổi mọi mặt và căn bản, cả về độc thính giả (người nhận tin), nhà phê bình (người gửi tin) và văn bản phê bình (thông điệp).
Độc, thính giả của phê bình thay đổi: Giờ đây, phê bình không chỉ được đọc trên sách báo mà còn được nghe nhìn trên truyền hình, đọc trên mạng Internet... Số lượng người đọc, người nghe tăng lên rất nhanh và đến mức khổng lồ do việc thông tin đã xuyên qua các biên giới: biên giới giữa các quốc gia, biên giới giữa gia đình và xã hội. Giờ đây có thể chỉ cần ngồi ở trong nhà mà biết được tất cả. Với sự trợ giúp của công nghệ ngày nay, mỗi con người có thể thành một “thánh nhân”; “thánh nhân” theo Khổng Tử là người chỉ ngồi ở nhà mà biết được mọi chuyện trong thiên hạ. Nên đặc biệt chú ý là độc giả trên internet hiện nay phần lớn là những người trẻ tuổi, có học và khá thạo ngoại ngữ, họ có thể đọc phê bình từ nhiều nguồn.
Chủ thể phê bình thay đổi: Với sự phát triển của thông tin trực tuyến hiện nay, nhà phê bình không chỉ là người giảng giải về văn học, anh ta còn phải là người đối thoại trực tiếp, trong nhiều trường hợp còn là người bị chất vấn (bị phê bình), là người thụ giảng văn học. Điều này là tất nhiên bởi vì trước một số lượng độc thính giả lớn và đa dạng như thế, anh ta chưa phải là người uyên bác và sâu sắc nhất, chưa nắm được mọi thông tin văn học. Điều nữa là nhà phê bình không chỉ còn gồm những bậc khả kính. Giờ đây chỉ cần có học vấn vừa phải, có tình yêu văn học và một trang web riêng là có thể thành "nhà phê bình văn học".
Văn bản phê bình thay đổi: Cấu trúc văn bản phê bình giờ đây, có thể nói, là không cố định. Để chứng minh một luận cứ nào đó, với việc sử dụng máy vi tính, nhà phê bình có thể ngay tức khắc dẫn ra vô vàn cứ liệu; mà các dẫn chứng ấy cũng là một thành phần của văn bản phê bình. Việc giảng văn, trò chuyện về văn học trên truyền hình cũng có thể dẫn ra các thước phim, các hình ảnh làm dẫn chứng. Chẳng hạn giờ đây, khi bình tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu có thể sử dụng các thước phim tư liệu về Trường Sơn, thậm chí có thể sử dụng cả âm nhạc làm dẫn liệu. Công nghệ truyền hình và máy vi tính dễ dàng đáp ứng điều này. Hiệu quả của sự phối hợp đó rất lớn.
Thêm nữa, các thể loại phỏng vấn, đối thoại về văn học ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên các trang báo. Số lượng khẩu ngữ trong các văn phẩm phê bình tăng lên rất nhiều, những lời nói đậm phong cách tu từ hay trang trọng lui về các tạp chí của các Viện khoa học và các Trường đại học với một phạm vi độc giả rất hẹp. Không phải ngẫu nhiên mà mục trò chuyện văn học trên tờ cuối tháng của một báo nọ rất được công chúng văn học (có cả những người có học vấn cao) ưa chuộng. Ở đây, ngoài việc dám nói thẳng vào các vấn đề “tế nhị”, còn ở việc sử dụng tối đa khẩu ngữ, những lối nói hàng ngày. Nói chung, phê bình có vẻ ngày càng trở nên “tạp” hơn xét cả về người viết, người đọc lẫn tác phẩm phê bình. Tuy nhiên ở một phía khác (dĩ nhiên với phạm vi rất hẹp) ở khu vực “đại học” và “viện hàn lâm” nó lại trở nên trừu tượng hơn, có nguy cơ trở thành một thứ triết học ngôn ngữ, triết học văn hoá siêu thoát khỏi thực tiễn sáng tác văn học.
Việc “đại chúng hoá” phê bình (kết quả của thời đại thông tin) mang đến sự đa dạng và dân chủ, song rõ ràng cũng đã làm cho phê bình tổn thất nặng nề. Tính chiết trung và chủ quan tăng lên, các nguyên tắc mĩ học và hệ tư tưởng làm cốt lõi cho phê bình văn học bị suy giảm mạnh. Các ấn phẩm phê bình không có điểm tựa mĩ học và triết học lan tràn. Phê bình dễ biến thành một hiện tượng ngữ văn thuần tuý. Vị thế của phê bình văn học trong đời sống xã hội do vậy mà kém đi nhiều. Trước đây, nhà văn Nga Yu.Triphonov từng nói: “Phê bình không ảnh hưởng trực tiếp đến công việc sáng tạo, song có ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần”. Giờ đây, trong tình trạng phê bình của chúng ta, đôi lúc tôi tự hỏi: thực ra thì phê bình văn học ảnh hưởng đến cái gì?
Vài nét chính của phê bình văn học trong thời đại thông tin theo tôi là như vậy. Nhiệm vụ của chúng ta, những nhà lí luận và phê bình chuyên nghiệp là nâng cao vị thế của phê bình, đồng thời làm cho công việc của mình phù hợp với đặc điểm và các yêu cầu của thời đại hiện nay.

PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh
(Nguồn: http://vanhocquenha.vn

 

Phụ huynh cũng “cá biệt”

Không ít phụ huynh có hành vi và cách dạy con làm ảnh hưởng lớn đến việc phát triển nhân cách của con em mình và “vô hiệu hóa” mọi nỗ lực giáo dục học sinh (HS) của nhà trường. Nhiều giáo viên cũng cảm thấy mệt mỏi và bất lực trước cách hành xử của một số phụ huynh “cá biệt”.


Tại một trường THCS ở Q.8 (TP.HCM), một HS lớp 6 thường xuyên đi ra ngoài trong giờ học mà không xin phép, thường không mang dép lên lớp, bài vở thiếu trước thiếu sau. Năm lần bảy lượt được mời, phụ huynh mới chịu diện kiến Ban giám hiệu.
Phụ huynh khoanh tay trình bày với hiệu trưởng: “Thưa thầy, nhà tôi làm nghề mổ heo, không có thời gian dạy con, nhờ thầy cô dạy dỗ cháu giùm”.
Thầy hiệu trưởng vừa tiễn phụ huynh này ra tới cửa, chưa kịp bước vào phòng đã nghe “bốp!”. Người mẹ tát một cái như trời giáng vào mặt con và gầm lên: “Mẹ mày mua cho mày bao nhiêu đôi dép rồi. Mày muốn chết không? Tao đánh cho mày bớt ngu”.
Dạy con bằng nắm đấm
Hiệu phó một trường THCS ở quận Bình Thạnh, TP.HCM kể trong trường chị có ba HS cá biệt, thích gây gổ, đánh nhau với bạn hơn thích học. Ba HS này chửi bậy và nói bậy - những câu mà nhiều thầy cô giáo nghe qua phải giật mình. Chị gửi giấy mời phụ huynh lên làm việc thì không thấy trả lời, phải đến khi giấy mời có thêm dòng chữ: “Nếu phụ huynh không hợp tác, nhà trường sẽ không tiếp tục nhận HS vào học” trường mới gặp được phụ huynh.  
Tại buổi làm việc, bố của HS L. mặt đỏ phừng phừng đề nghị: “Nó hư, cô cứ oánh cho nó chết. Thằng này lì lắm. Ở nhà, tôi đã đánh đến tóe máu mà nó vẫn không chừa cái tật”.
Xong việc, vừa kéo con ra về người cha vừa mắng con oang oang: “ĐM. Cái đồ còn ngu hơn bò. Cho mày ăn học để làm gì hả? Để cho người ta kêu tao vào mắng vốn à? Lần sau tao còn bị kêu nữa là cho mày ở nhà đi hốt phân bò, nghe chưa?”.
Trong khi đó, tại một trường THPT ở Q.10, một HS sử dụng điện thoại trong giờ học bị giáo viên bắt được, em thách thức: “Bà đánh tui đi. Tui thưa (kiện - PV) bà liền”. Bị ban giám hiệu mời lên “uống nước trà”, HS tường trình: “Má dặn con nói vậy”.
Nhưng khi giáo viên trao đổi với phụ huynh thì chị này lắc đầu nguầy nguậy: “Tui có nói vậy đâu” đến nỗi cậu HS phải gắt lên với mẹ: “Bà nói chứ ai. Bà kêu tui nếu cô giáo đánh thì nói ngay để bà đi thưa”.
“Cái này không được nha cô”
“Là trường mầm non tư thục nên phụ huynh có thể vào lớp bất cứ lúc nào và góp ý với giáo viên bất cứ việc gì. Lớp mình có một HS thuộc hàng khá giả, mẹ bé không đi làm nên có nhiều thời gian. Chị ấy hay vào lớp thăm con, có khi một ngày vào ba lần và mỗi lần ở lại cả tiếng đồng hồ để giám sát cô giáo.
HS lớp mầm (3 tuổi) hầu hết đã biết cầm muỗng tự múc ăn, riêng con chị chưa biết nên mình tập cho bé biết tự phục vụ bản thân. Thấy thế, chị nghiêm giọng: “Cô đút cho bé ăn chứ bé tự múc rơi vãi hết lên quần áo, cơm canh nóng dễ bị phỏng lắm”. Ăn xong, HS tự cầm tô của mình ra xếp vào khay và tự đem ghế của mình xếp lại cùng các bạn, chị cũng can thiệp: “Cô đừng bắt cháu làm như thế, bé ốm yếu, lỡ ghế rớt lên chân là gãy xương”.
Rất nhiều việc chị đề nghị cô giáo làm thay cho cháu với lời hứa: “Các cô ráng chăm cho cháu tốt, cuối tháng mẹ sẽ bồi dưỡng”.
Câu nói này được nhắc đi nhắc lại trước mặt các HS khiến con chị hay sai bảo cô giáo: “Cô ơi, cởi quần cho con đi ị (đa số HS 3 tuổi đều đã biết tự cởi quần và ngồi bồn cầu - PV). Cô ơi mang đồ chơi qua đây cho con. Cô ơi lấy nước cho con uống...”.
Cứ sau mỗi câu như thế bé lại nhấn mạnh: “Cô ráng chăm con cho tốt đi, cuối tháng mẹ sẽ bồi dưỡng mà”. Chúng tôi giải thích cho bé thì bé kể: “Mẹ bảo mỗi tháng đóng cho các cô mấy triệu đồng để cô chăm con, chứ con tự làm hết thì đi học làm gì”. Kể xong câu chuyện, chị T.T. - giáo viên một trường mầm non tư thục ở Q.1 - chép miệng: “Mới 3 tuổi, bé đã biết dùng đồng tiền làm phương tiện sai bảo mọi người”.
Trong khi đó, các cô giáo ở lớp Thỏ Ngọc (HS từ 24-36 tháng) trường mầm non tư thục Đ (Q.9) lại khổ vì một phụ huynh có trình độ thạc sĩ kinh tế. Giờ ăn, cô lau miệng cho cháu bằng khăn giấy, phụ huynh chỉnh ngay: “Cái này không được nha cô, đây là giấy cuộn chỉ dùng đi vệ sinh chứ không lau miệng được, mất vệ sinh lắm”.
Bé nhà trẻ hay bị chảy mũi, cô lấy khăn giấy lau mũi cho cháu, phụ huynh góp ý: “Cái này không được nha cô. Lau mũi bằng khăn giấy rất dễ khiến bé bị ho, phải lau bằng khăn mùng ấy”...
Các cô giáo cho biết cũng có chuyện phụ huynh góp ý đúng nhưng khó chịu nhất là cách nói “bề trên”: Cái này không được nha cô. Câu nói này khiến HS xem cô như ôsin trong nhà. Bé không chịu ăn là nạt cô: “Không được đút bé ăn nữa”. Buổi chiều, không chịu tắm, bé cũng nói: “Cái này không được nha cô, cô không được tắm cho bé”.


(Nguồn: http://tuoitre.vn)

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 Tiếp theo > Cuối >>
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

Sách mới

Đăng nhập

  • Đăng ký
    *
    *
    *
    *
    *
    Fields marked with an asterisk (*) are required.
  • Thống kê truy cập

    mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

    We have: 1 guests, 1 bots online
    Hôm nay: 23 Tháng 11 , 2014